Thứ Sáu, ngày 27 tháng 5 năm 2016

Tổng thống Mỹ, nhân dân Việt Nam và ĐCSVN.

Những hình ảnh người dân Việt Nam ở hai thành phố lớn đứng đầy hai bên hè đường vẫy tay chào đón tổng thống Hoa Kỳ cùng với những tiếng reo hò đồng thanh tên của ông tràn ngập trên truyền thông Việt Nam những ngày qua.

Hình ảnh đó quả thật là một sự bất ngờ, khó có ai có thể hình dung được rằng người dân Việt Nam lại bày tỏ tình cảm nồng nhiệt như vậy đối với tổng thống Hoa Kỳ. Trong khi đó, chế độ Việt Nam tiếp đón tổng thống Obama với một nghi thức nếu so tầm cường quốc như Hoa Kỳ, có thể nói đó là một nghi thức lạnh nhạt , miễn cưỡng cho phải phép xã giao.

Dường như Hoa Kỳ hiểu rõ chế độ Việt Nam, hiểu đến chân tơ kẽ tóc những cách đối xử của chế độ Việt Nam như ngắt phần dịch, ngăn chặn những người mà phía Hoa Kỳ cần tiếp xúc....tất cả những điều ấy Hoa Kỳ đều dự định được trước.

 Hoa Kỳ cũng hiểu tất cả những gì người cộng sản Việt Nam đang làm đều là trò ứng xử tiểu nhân của những kẻ kém thế và mất tư cách. Họ không chấp nhặt điều ấy, cái họ cần là đưa được thông điệp của họ đến với người dân Việt Nam.

 Sự không chấp nhặt ấy bị suy diễn thành Hoa Kỳ chỉ quan tâm lợi ích của họ, Hoa Kỳ sẵn sàng bắt tay với cộng sản và bỏ qua nhân quyền, hay vị thế của Việt Nam đang lên cao khiến Hoa Kỳ phải vị nể.....

 Thật ra quan điểm này là của một số người bi quan và bọn dư luận viên tung hứng ra vào để làm nhụt chí khí của làn sóng đấu tranh đòi tư do, nhân quyền ở Việt Nam.

Hoa Kỳ chưa lúc nào ngưng nghỉ việc đòi quyền tự do, quyền con người ở Việt Nam. Bằng chứng là bài phát biểu của Obama đến với người dân Việt Nam, sự tha thiết của ông với người dân Việt Nam qua những hành động nhỏ như ăn bún chả, trú mưa, nói chuyện với thanh niên....dường như đấy mới là mục tiêu chính của Hoa Kỳ. Những lễ nghi hay các vị nguyên thủ Việt Nam đối với ông chỉ là đám bù nhìn chặn đường ông đến với nhân dân Việt Nam đưa thông điệp của mình.

 Hình ảnh hàng ngàn người dân nồng nhiệt chào đón tổng thống Hoa Kỳ cũng như thái độ trọng thị dân chúng Việt Nam của tống thống Hoa Kỳ, đã khiến cho vai trò của đảng cộng sản VN trở nên vô duyên, thành kẻ ngoài lề phá bĩnh. Bất chấp thái độ của cộng sản VN,  thông điệp mà Hoa Kỳ muốn chuyển được đến nhân dân Việt Nam đã được chuyển, tình cảm của người dân Việt Nam muốn bày tỏ với Hoa Kỳ đã được bày tỏ. Đó là điều thành công nhất trong chuyến đi của tổng thống Obama. Những cái còn lại hãy để sau, mặc dù chúng rất cần thiết như việc thả tự do cho tù nhân lương tâm. Nhưng đó là việc của nhiều năm trước đó và nhiều năm sau này, những việc như ta gọi là việc thường nhật giữa quan hệ chính phủ hai nước. Không tù nhân này sẽ có tù nhân khác nếu như thể chế cộng sản này vẫn còn, Hoa Kỳ không muốn cuộc chạy theo chân chế độ cộng sản để xin tha người cứ kéo dài từ năm này qua năm khác. Hoa Kỳ vẫn đòi hỏi việc thả tù nhân lương tâm, nhưng thông điệp của tổng thống Hoa Kỳ cũng bày tỏ mong muốn người dân Việt Nam hãy cùng họ chấm dứt nguồn gốc của việc đấy, và Hoa Kỳ hoan nghênh điều ấy.

 Hãy nhìn sâu xa hơn thông điệp mà tổng thống Obama đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra. Trong thông điệp đó, Hoa Kỳ đã muốn nói nhân dân Việt Nam mới là lực lượng mà Hoa Kỳ coi trọng, quyết định của nhân dân Việt Nam mới thực sự là ý nghĩa trong quan hệ hai nước. Đảng cộng sản Việt Nam chỉ là những kẻ ngáng đường trơ tráo ngăn cản, lợi dụng mong muốn của nhân dân Hoa Kỳ, Việt Nam muốn có quan hệ tốt đẹp để đòi phần cho mình.


 Cộng sản Việt Nam tất nhìn ra thông điệp của Hoa Kỳ cũng như lòng dân Việt Nam. Lẽ ra họ phải nhún mình và nương theo nguyện vọng của hai phía trên để có một kết quả hài hoà. Nhưng với bản chất cố hữu độc tài họ sẽ tìm mọi cách gia tăng bóp nghẹt ước muốn của người dân Việt Nam, cũng như họ hạ nhục và xuyên tạc động cơ của Hoa Kỳ. Điều đó dẫn đến lập luận rằng Hoa Kỳ quan hệ với chế độ Việt Nam không làm thay đổi được gì, chỉ khiến tình trạng tự do ở Việt Nam bị đàn áp gia tăng được củng cố. Rằng chỉ có ĐCSVN mới là người quyết định thay đổi được mọi thứ.

 Tuy nhiên nếu nhìn khác đi một chút, ta có thể thấy ĐCSVN đang bẽ bàng chầu rìa khi nhìn thấy cảm tình của Hoa Kỳ và nhân dân Việt Nam với nhau. Cần phải hiểu thêm thông điệp của Hoa Kỳ có ẩn ý như - Tại sao chúng ta ( Hoa Kỳ và nhân dân Việt Nam ) tình cảm như vậy mà không đến được với nhau, đó là tại đảng CSVN ngáng đường, tại sao ĐCSVN ngáng đường chúng ta.? Tại sao lại để họ ngăn cản mong muốn hợp tác tiến bộ này.

 Thay vì đòi hỏi chúng tôi ( Hoa Kỳ) phải ở thế rượt đuổi hết năm này qua năm khác để đòi hỏi Cộng sản VN tha cho hết lớp tù nhân này, đến lớp tù nhân khác. Các bạn hãy  chấm dứt điều đó và chúng tôi ủng hộ. Đấy mới là những thông điệp quan trọng mà Hoa Kỳ đã phát đi.


 Hàng ngàn người Việt Nam hân hoan chào đón tổng thống Mỹ, những bài phát biểu của tổng thống Mỹ nói gì. Nhìn trong đó để thấy những mầm dân chủ đang được hứa hẹn, đừng vội nhìn vào sự đàn áp gia tăng của CS mà trở thành chán chường và thất vọng với Hoa Kỳ. Nếu như họ thực sự không quan tâm đến dân chủ và quyền con người, họ đã chẳng mất công đến vậy. Nếu như họ chỉ là những kẻ thực dụng chỉ quan tâm đến lợi ích của họ, họ đã có nhiều nơi khác để quan tâm tìm kiến lợi ích hơn là ở một quốc gia như Việt Nam.

 Những cố gắng dẫy dụa đàn áp bằng mọi trò đê tiện của chế độ cộng sản chỉ chứng minh chúng đang gần đến sự dẫy dụa tuyệt vọng, hơn là chứng minh chúng mạnh mẽ và thế giới tiến bộ không làm gì được chúng. Đừng nên thấy đó là điều bi quan, vì cộng sản cố gắng đàn áp để người dân có cảm giác đó. Như một canh bài, mỗi lá bài rút ra tiền cược được tố vống lên, không phải là lá bài trong tay mạnh, mà chỉ là đòn hù doạ để đối thủ bỏ cuộc chơi. Cộng sản Việt Nam đang cầm những lá bài yếu thế là nợ công cao, ngân sách cạn kiệt, tài nguyên cạn kiệt, môi trường nhiễm độc, lòng dân chán ngán. Những chuyện đánh đập,  bắt bớ, những tuyên truyền lên gân lên cốt chỉ là cách tố tiền cược lên cao để doạ những tay chơi non tinh thần.

 Hãy tiếp tục gia tăng thành lập những nhóm xã hội dân sự, gia tăng hoạt động trên mọi lãnh vực xã hội. Khó khăn trong vài năm tới sẽ cực kỳ lớn bởi sự đàn áp cuối cùng của chế độ đang giãy chết, đừng nản lòng hay sờn chí bởi những luận điệu bi quan  của người đấu tranh nào đó hoặc những lời lung lạc của kẻ thù.

 Với tình cảm của người dân Việt Nam đã thể hiện trong chuyến đến thăm của tổng thống Hoa Kỳ, đó là khát vọng tự do, dân chủ, tiến bộ. Khát vọng ấy trước sau gì cũng sẽ đạt được,




Lời phát biểu của tổng thống Obama với nhân dân Việt Nam.

Bản dịch do bác sĩ Thục Quyên. Chị Thục Quyên đã nghỉ hưu, hiện sống ở Mu Nich, là một người có nhiều năm miệt mài trong các hoạt động đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Chị theo Phật Giáo, ăn chay trường. Khi hị nghỉ hưu, nhiều anh em thân thiết đã tha thiết mong chị dành thời gian để dịch những bài báo quốc tế làm tài liệu cho anh em. Chị đã đồng ý, và đây là một trong những bài dịch của chị. Hy vọng sẽ có nhiều anh em ở Đức sẽ góp phần dịch bài viết cho phong phú cùng với chị Thục Quyên.
BVN: Trong ba ngày lưu lại ở Việt Nam, từ 23 đến 25-5-2016, Tổng thống Obama đã thể hiện mình là một con người cao thượng, chân thành và rất mực nhân ái. Một nhân vật siêu đẳng không dễ ở đâu và bao giờ ta cũng may mắn được tiếp xúc, được nhìn ngắm ở một cự ly gần. Lời phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình sáng ngày 24-5-2016 là một diễn ngôn có tầm thời đại làm cả thế giới phải lắng nghe, nhưng cũng là một lời nhắn nhủ chân tình rút ra từ trái tim đôn hậu. Rất tiếc, một số báo chí quốc doanh sau đó đã dịch không đầy đủ nhưng lại lập lờ không ghi rõ là trích dịch, nên bị dư luận rộng rãi lên tiếng phản đối, coi là "lươn lẹo".
Chúng tôi đã đọc lại diễn từ của vị Tổng thống nước Mỹ và tìm được một cách phán xét thể tình hơn. Bài diễn văn cho thấy ông Obama biết rõ mọi chuyện bê bối mà đất nước chúng ta đang oằn lưng gánh trên vai, biết rõ mọi ý nghĩ, hành vi của người đối thoại với mình như đi guốc trong ruột họ, nhưng ông đã sẵn sàng bỏ qua, và vẫn kiên nhẫn đợi chờ – cách khu xử của ông trong hội ngộ với Việt Nam lần này rõ ràng là "đi nhẹ nói khẽ".
Chắc chắn nhà cầm quyền đã phải đọc ông rất kỹ, đọc ông để học ông mà thay đổi dần thói tệ của mình. Nhưng thay đổi ngay thì đâu đã kịp. Cho nên, một ức đoán không xa sự thật cho lắm là đã có lệnh truyền cho báo chí phải lược bỏ những chỗ mà người trên "nhá" không nổi, lại sợ bàn dân truyền nhau như nuốt vào bụng rồi bỗng... nhìn thấu tỏ chân dung mình thì chí nguy. Đó là lý do khiến ta không nên nặng lời với báo chí. Cách tốt nhất là ta cố gắng công bố những bản dịch trung thực và trọn vẹn, để người dân tự mình tìm đọc, tự mình chiêm nghiệm.
Trên tinh thần ấy, dù đã đăng một bản dịch trong ngày hôm qua, Bauxite Việt Nam vẫn trân trọng gửi đến bạn đọc bản dịch mới của dịch giả Thục Quyên, một bản dịch bám sát từng câu chữ của bản gốc do Nhà Trắng công bố gần đây.
Bauxite Việt Nam


Xin cám ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho tôi sự chào đón nồng ấm và cho tôi hưởng lòng hiếu khách của người Việt trong chuyến thăm này. Và cũng xin cảm ơn các bạn Việt Nam có mặt ở đây ngày hôm nay, những người đến từ khắp nơi trên đất nước tuyệt vời này, trong đó có rất nhiều người trẻ đại diện cho sự năng động, tài năng và niềm hy vọng của Việt Nam.
Trong chuyến thăm này, bản tính thân thiện đặc trưng của người Việt đã rung động trái tim tôi. Tôi cảm nhận được tình bạn giữa hai dân tộc chúng ta trong đám đông những người đứng dọc hai bên đường vẫy tay chào kèm với nụ cười. Đêm hôm qua, tôi đến thăm phố cổ Hà Nội và được thưởng thức vài món ăn Việt Nam đặc sắc. Tôi có nếm bún chả và uống bia Hà Nội. Tuy nhiên tôi phải nhận xét một điều về những con đường nhộn nhịp của thành phố này: chưa bao giờ trong đời tôi, tôi lại thấy nhiều xe máy như vậy. Tôi chưa thử đi sang đường, nhưng có lẽ sau này khi tôi trở lại thăm Việt Nam, các bạn sẽ chỉ cho tôi cách qua đường như thế nào.
Tính trong những năm gần đây thì tôi không phải là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, nhưng tôi là Tổng thống đầu tiên vừa đến tuổi trưởng thành sau cuộc chiến giữa hai quốc gia chúng ta, như số đông các bạn. Khi lực lượng quân sự Mỹ cuối cùng rời Việt Nam tôi mới 13 tuổi. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với thực thể Việt Nam cũng như với người Việt Nam là ở Hawaii, nơi tôi lớn lên, nơi có một cộng đồng đầy tự tin của người Mỹ gốc Việt.
Đồng thời hiện nay tại Việt Nam cũng có nhiều người còn trẻ tuổi hơn tôi.
Cũng như hai con gái tôi, số lớn các bạn từ khi sinh ra chỉ biết đến một điều duy nhất: đó là nền hòa bình và quan hệ đã bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Do đó, tuy rất ý thức về quá khứ, ý thức về những khó khăn trong lịch sử chung, nhưng tôi đến đây với chủ đích hướng về tương lai, với thịnh vượng, an ninh và nhân phẩm, là những gì chúng ta có thể cùng góp sức đẩy mạnh.
Tôi cũng đến đây với lòng kính trọng di sản cổ xưa của Việt Nam.
Từ hàng thiên niên kỷ, các nông dân đã trồng cấy trên những mảnh đất này, mà vết tích còn để lại trên trống đồng Đông Sơn. Hà Nội đã đứng vững hơn nghìn năm trong vòng ôm của dòng sông [Hồng]. Thế giới đã biết quý trọng lụa và những bức họa của Việt Nam, và Văn Miếu minh chứng cho sự trau dồi kiến thức không ngừng của dân tộc Việt. Vậy mà trải qua nhiều thế kỷ, rất nhiều khi vận mệnh của Việt Nam từng bị người khác định đoạt. Mảnh đất yêu quý của các bạn không phải lúc nào cũng thuộc về các bạn. Nhưng như cây tre, tinh thần quật cường của dân tộc Việt đã được tinh kết trong câu thơ của Lý Thường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành đã định tại sách trời.
Hôm nay chúng ta cũng nên nhớ lại bề dày lịch sử giữa người Việt và người Mỹ mà chúng ta thường lãng quên. Hơn 200 năm trước, vị tổ lập quốc của chúng tôi, Thomas Jefferson, khi tìm kiếm gạo giống cho trang trại của mình, đã chọn gạo Việt Nam mà ông mô tả là "nổi tiếng vừa trắng, vừa ngon, mà năng suất lại cao nhất". Không lâu sau đó, những thuyền buôn của Mỹ đã cập cảng Việt Nam, tìm cơ hội giao thương.
Trong Thế chiến II, người Mỹ đã tới hỗ trợ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt chống lại ách đô hộ. Khi máy bay Mỹ bị bắn rơi, người dân Việt Nam đã cứu giúp những viên phi công gặp nạn.
Và ngày tuyên bố độc lập của Việt Nam, khi người dân đổ ra khắp đường phố Hà Nội, ông Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: "Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Tự Do, và Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc".
Vào một thời điểm khác, việc chia sẻ với nhau những giá trị nói trên và liên kết đánh đuổi thực dân có thể đã đưa chúng ta xích lại gần nhau sớm hơn. Tuy nhiên những kình địch trong Chiến tranh lạnh và nỗi lo sợ Chủ nghĩa Cộng sản đã dẫn chúng ta đến đối diện với một cuộc chiến. Và giống như tất cả mọi cuộc giao tranh trong lịch sử nhân loại, kết quả chúng ta chỉ học được một sự thật chua chát: chiến tranh dù nhắm mục đích nào cũng chỉ mang lại khổ đau và thảm họa.
Không xa nơi đây là Đài Tưởng niệm Liệt sĩ, cũng như các bàn thờ tại những gia đình Việt Nam khắp nơi trong nước, vẫn đang tưởng niệm khoảng 3 triệu người, là thường dân và quân sĩ của cả hai bên đã thiệt mạng. Tại Bức tường Tưởng niệm Chiến tranh ở Washington, chúng tôi có thể chạm vào tên của 58.315 người Mỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến. Trong cả hai quốc gia của chúng ta, những cựu chiến binh và gia đình những người đã nằm xuống vẫn còn quay quắt nhớ đến nhiều bè bạn và người thương đã mất.
Người Mỹ chúng tôi đã học bài học, dù khác quan điểm nhau trong cách nhìn cuộc chiến, chúng ta vẫn luôn phải vinh danh những binh sĩ tham chiến và phải chào đón họ trở về với sự tôn kính mà họ xứng đáng được hưởng. Trong tinh thần đó, người Việt và người Mỹ chúng ta hôm nay có thể cùng nhau nhìn nhận nỗi đau và sự hy sinh cả hai bên đã phải gánh chịu.
Gần đây hơn, trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, và ngày nay, thế giới có thể nhìn rõ những thành tựu ngoạn mục của các bạn. Với những đổi mới kinh tế và hiệp định thương mại tự do, kể cả với Mỹ, các bạn đã gia nhập kinh tế toàn cầu, bán hàng ra khắp thế giới. Đầu tư nước ngoài đang vào Việt Nam. Và với một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á, Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia thu nhập trung bình.
Chúng tôi có thể nhìn thấy sự phát triển của Việt Nam qua những tòa nhà chọc trời ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, những trung tâm thương mại và khu đô thị mới. Chúng tôi cũng thấy điều ấy qua những vệ tinh Việt Nam phóng vào không gian, và qua cả một thế hệ đang nối mạng internet để khởi nghiệp và thử hướng đi mới. Chúng tôi còn thấy nó thể hiện với hàng chục triệu người Việt Nam sử dụng Facebook và Instagram, không chỉ để đăng ảnh selfies [tự chụp], dù tôi có được nghe là các bạn hay chụp ảnh selfies lắm và cho tới giờ tôi phải nói là vô khối người đã đề nghị chụp ảnh selfies với tôi. Không chỉ thế, các bạn cũng lên tiếng vì những điều mình quan tâm, như việc cứu những hàng cây cổ thụ ở Hà Nội.
Tất cả những sự năng động đó đã đem lại tiến bộ thật sự trong cuộc sống của người dân. Việt Nam đã giảm nghèo một cách đáng kể, tăng thu nhập gia đình và nâng hàng triệu người nhanh chóng lên tầng lớp trung lưu. Đói nghèo, bệnh tật, tỷ lệ tử vong đối với bà mẹ và trẻ sơ sinh đều đã giảm. Số người được tiếp cận điện nước, số trẻ em trai và gái được đi học, tỉ lệ biết chữ, đều tăng lên. Đó là một tiến bộ phi thường mà các bạn đã làm được trong một thời gian rất ngắn.
Đi cùng với sự thay đổi của Việt Nam cũng là sự thay đổi trong quan hệ giữa hai quốc gia của chúng ta. Chúng ta đã nhận được bài học từ Hòa thượng Thích Nhất Hạnh khi ông dạy: "Đối thoại thực sự là khi cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi". Khi đó, chính cuộc chiến từng chia rẽ chúng ta lại trở thành nguồn cho vết thương liền lại.
Nó cho phép chúng ta tìm và đưa những người mất tích trở về nhà, giúp gỡ bỏ những bom mìn chưa nổ vì không thể để bất cứ đứa trẻ nào phải mất chân khi đang chơi đùa bên ngoài. Chúng tôi cũng vừa tiếp tục giúp đỡ người khuyết tật, kể cả trẻ em, vừa giúp khắc phục hậu quả của chất độc da cam – dioxin – để Việt Nam có thể tái sử dụng thêm nhiều đất. Chúng ta tự hào về công việc chung ở Đà Nẵng, và chúng tôi sẽ tiếp tục giúp đỡ các bạn tại Biên Hòa.
Cũng đừng quên quá trình hòa giải giữa hai nước đã được bắt đầu bởi những cựu chiến binh, những người đã từng đối mặt trong cuộc chiến. Như Thượng nghị sĩ John McCain, từng là tù nhân chiến tranh nhiều năm, khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: hai nước chúng ta không nên là kẻ thù mà nên là bạn. Hãy nghĩ tới biết bao cựu chiến binh Việt và Mỹ khác đã chung tay giúp chúng ta hàn gắn và xây dựng những quan hệ mới. Về mặt này trong những năm qua, ít ai có thể làm hơn cựu Trung úy hải quân nay là Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, cũng đang có mặt nơi đây. Thay mặt tất cả, cám ơn John vì những nỗ lực phi thường của ông.
Vì những cựu chiến binh của chúng ta đã chỉ đường, vì những người từng tham chiến đã can đảm đi tìm hòa bình, nhân dân hai nước đã đến gần nhau hơn bao giờ hết. Giao thương đã tăng. Sinh viên, học giả hai nước cùng nhau học tập. Chúng tôi đón nhận sinh viên Việt Nam đến Mỹ học nhiều nhất trong các nước Đông Nam Á. Và mỗi năm du khách Mỹ đến Việt Nam càng nhiều hơn, kể cả những người "khách ba lô" Mỹ trẻ, thăm Hà Nội 36 phố phường và những cửa hàng ở Phố cổ Hội An, thăm Kinh đô Huế.
Chúng ta, Việt và Mỹ, đều có thể đồng cảm với những lời của nhạc sĩ Văn Cao: "Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người".
Trên cương vị Tổng thống, tôi đã bắt mình nhìn vào những tiến triển đó. Với mối quan hệ đối tác toàn diện mới, Chính phủ hai nước đang hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết. Và với chuyến thăm này, chúng ta đã đặt mối quan hệ Việt-Mỹ lên một nền tảng vững chắc hơn cho nhiều thập kỷ tới. Dường như gắn bó lịch sử giữa hai quốc gia, bắt đầu từ Tổng thống Thomas Jefferson 200 năm trước, đến nay đã trọn một vòng. Chúng ta đã mất nhiều tháng năm và nỗ lực, nhưng giờ đây chúng ta có thể nói điều mà trước đây là không tưởng: Việt Nam và Mỹ hôm nay là đối tác của nhau
Kinh nghiệm của chúng ta cũng là bài học cho cả thế giới. Ở một thời điểm mà biết bao xung đột có vẻ không thể giải quyết và dường như không bao giờ chấm dứt, chúng ta đã chứng minh là trái tim có thể đem tới thay đổi,và tương lai sẽ khác đi nếu ta không chấp nhận làm tù nhân cho quá khứ. Chúng ta đã cho thấy rằng hòa bình tốt đẹp hơn chiến tranh, rằng tiến bộ và phẩm giá con người được phát huy tốt nhất qua hợp tác chứ không qua xung đột. Đó là những điều Việt Nam và Mỹ có thể chỉ rõ cho thế giới.
Sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam dựa trên những chân lý cơ bản.
Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, không nước nào có thể áp đặt ý muốn hoặc quyết định vận mệnh thay cho các bạn. Điều này là một mối quan tâm của Mỹ. Chúng tôi quan tâm đến sự thành công của Việt Nam. Nhưng quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta còn ở những giai đoạn đầu. Và trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ, tôi muốn chia sẻ với các bạn tầm nhìn mà tôi tin là sẽ dẫn lối cho chúng ta trong nhiều thập kỷ tới.
Trước hết, chúng ta hãy cộng tác để đem lại những cơ hội thực thụ và sự thịnh vượng cho nhân dân hai nước. Chúng ta biết những chất liệu tạo nên thành công về kinh tế trong thế kỷ 21: Trong nền kinh tế toàn cầu, đầu tư và thương mại sẽ chuyển đến nơi nào có pháp quyền, vì không ai muốn phải hối lộ để được kinh doanh. Không ai muốn bán hàng hay đi học mà không biết mình sẽ được đối xử như thế nào.
Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, việc làm chỉ nảy sinh nơi con người được tư duy độc lập, được trao đổi ý tưởng và sáng tạo. Đối tác kinh tế thực thụ không chỉ là nước này đến khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước kia, mà là đầu tư vào nguồn tài nguyên lớn nhất của chúng ta, đó là con người với những kỹ năng và tài năng của họ, dù sống ở thành thị hay làng quê.
Đó chính là hình thức đối tác Hoa Kỳ đề nghị.
Như tôi đã công bố hôm qua, lần đầu tiên Đoàn Hoà Bình (Peace Corps) sẽ đến Việt Nam, tập trung vào công tác giảng dạy tiếng Anh. Sau thế hệ thanh niên Mỹ đến đây tham chiến, sẽ có một thế hệ mới đến để dạy học, xây dựng và thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Một số công ty công nghệ và học viện hàng đầu của Mỹ đang hợp tác với các trường đại học Việt Nam để tăng cường đào tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học và y tế. Vì dù vẫn tiếp tục mở rộng cửa đón sinh viên Việt Nam đến Mỹ học, chúng tôi tin rằng những người trẻ xứng đáng có cơ hội được đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế ngay tại đây, tại Việt Nam.
Và đó là một trong những lý do tại sao chúng tôi rất hứng thú khi mùa thu này Đại học Fulbright sẽ khai trương ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học độc lập phi lợi nhuận đầu tiên tại Việt Nam, với nền học thuật hoàn toàn tự do, và có học bổng cho những sinh viên trong hoàn cảnh khó khăn. Sinh viên, học giả, và các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào chính sách cộng đồng, quản trị, kinh doanh, vào kỹ thuật, tin học, vào các ngành học khai phóng – văn học nghệ thuật... Tất cả, từ thơ Nguyễn Du, đến triết lý Phan Châu Trinh đến toán học Ngô Bảo Châu.
Chúng tôi cũng sẽ duy trì hợp tác với lớp người trẻ và doanh nhân, vì chúng tôi tin rằng khi có thể tiếp cận công nghệ, kỹ năng và nguồn vốn cần thiết thì không còn gì ngăn trở được các bạn, cả các bạn gái, những phụ nữ tài giỏi của Việt Nam. Chúng tôi nghĩ bình đẳng giới là một nguyên tắc quan trọng. Từ thời Hai Bà Trưng tới nay, những người phụ nữ mạnh mẽ và tự tin đã vẫn góp phần đưa Việt Nam đi tới. Đây là một điều hiển nhiên, khắp thế giới đi đâu tôi cũng nói điều này, rằng gia đình, cộng đồng và đất nước sẽ thịnh vượng hơn nếu phụ nữ và các em gái có cơ hội bình đẳng để thành công trong trường học, sở làm và trong cơ quan chính quyền. Đúng ở mọi nơi, và cũng đúng ở Việt Nam.
Chúng tôi cũng sẽ nỗ lực phát huy tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam qua Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP sẽ giúp Việt Nam bán ra thế giới nhiều sản phẩm hơn, đồng thời thu hút những nguồn đầu tư mới. Nhưng TPP sẽ đòi hỏi cải cách để bảo vệ người lao động, pháp quyền và sở hữu trí tuệ. Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiệu quả những cam kết.
Tôi muốn các bạn biết rằng, là Tổng thống Mỹ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP cũng vì các bạn có thể sẽ mua thêm nhiều hàng hóa "Made in America" của chúng tôi.
Hơn nữa tôi ủng hộ TPP vì những lợi ích chiến lược quan trọng. Việt Nam sẽ bớt phải phụ thuộc một đối tác kinh tế duy nhất, có thể mở rộng quan hệ với nhiều đối tác, trong đó có Mỹ. TPP sẽ tăng cường hợp tác khu vực, giúp đối phó với sự bất bình đẳng về kinh tế, và thúc đẩy nhân quyền bằng những cải thiện lương bổng cũng như điều kiện làm việc an toàn hơn. Lần đầu tiên tại Việt Nam, có quyền thành lập công đoàn độc lập, có các quy định cấm lao động cưỡng bức và lao động trẻ em. Cũng có những phương thức bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn phòng chống tham nhũng cao hơn bất cứ hiệp định thương mại nào trong lịch sử. Đó là tương lai mà TPP đem lại cho tất cả chúng ta, vì tất cả chúng ta – Hoa Kỳ, Việt Nam và các đối tác khác – sẽ bị ràng buộc bởi những nguyên tắc mà chính chúng ta đã cùng tạo dựng. Tương lai đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta cần hoàn thành nó để bảo đảm thịnh vượng kinh tế và an ninh quốc gia.
Điều này đưa đến lĩnh vực thứ hai mà chúng ta có để hợp tác, đó là bảo đảm an ninh cho đôi bên. Trong chuyến thăm này, chúng ta đồng ý đẩy mạnh thêm hợp tác an ninh và củng cố lòng tin giữa hai quân đội. Chúng tôi sẽ tiếp tục huấn luyện và cung cấp thiết bị cho lực lượng tuần duyên để giúp nâng cao năng lực hàng hải Việt Nam. Chúng ta sẽ hợp tác cứu trợ nhân đạo khi có thiên tai. Với công bố tôi đưa ra hôm qua về việc dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí, Việt Nam có cơ hội tiếp cận những thiết bị quân sự cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia. Và nước Mỹ đang thể hiện cam kết bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Việt Nam.
Trong phạm vi rộng hơn, thế kỷ 20 đã dạy cho tất cả các quốc gia, trong đó có Mỹ và Việt Nam, rằng trật tự thế giới mà nền an ninh hỗ tương của chúng ta phụ thuộc, có nền tảng ở một số chuẩn mực và quy tắc nhất định. Mọi quốc gia đều có chủ quyền, dù nhỏ hay lớn, chủ quyền của một quốc gia phải được tôn trọng, và lãnh thổ không thể bị xâm phạm. Nước lớn không được bắt nạt nước nhỏ, tranh chấp phải được giải quyết trong hòa bình.
Các cơ chế khu vực như ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (East Asian Summit) cần tiếp tục tăng cường. Đó là điều mà tôi tin tưởng. Mà nước Mỹ tin tưởng. Đó là quan hệ đối tác Mỹ đem lại cho khu vực này. Với lòng mong muốn phát huy tinh thần tôn trọng và hòa giải, tôi sẽ là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Lào vào cuối năm nay.
Tại Biển Đông, Mỹ không can dự vào những tranh chấp, nhưng chúng tôi sát cánh với các đối tác giữ vững những nguyên tắc cốt lõi như tự do hàng hải, tự do hàng không, giao thương hợp pháp không thể bị ngăn cản, giải quyết tranh chấp phải bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xúc tiến thêm mối quan hệ đối tác, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vận hành máy bay, tàu thủy đến hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, và ủng hộ quyền của tất cả các nước được làm như vậy.
Ngay cả khi chúng ta hợp tác chặt chẽ hơn trong những lĩnh vực tôi vừa miêu tả, quan hệ đối tác của chúng ta còn có thành tố thứ ba – liên quan tới những bất đồng còn tồn tại giữa hai Chính phủ, trong đó có vấn đề nhân quyền.
Tôi không ám chỉ riêng Việt Nam. Không quốc gia nào hoàn hảo cả. Qua hai thế kỷ, nước Mỹ cũng vẫn phải nỗ lực hầu mong đạt được những lý tưởng chính chúng tôi đã đề ra khi lập quốc. Chúng tôi vẫn đang đối phó với những hạn chế của mình như, tiền bạc chi phối chính trị, gia tăng bất bình đẳng kinh tế, phân biệt chủng tộc trong hệ thống tư pháp, phụ nữ vẫn chưa được hưởng mức lương cao như nam giới.
Chúng tôi vẫn còn nhiều vấn đề, và tôi cam đoan, chúng tôi không miễn nhiễm với chỉ trích. Tôi vẫn nghe chỉ trích mỗi ngày. Nhưng sự giám sát đó, tranh luận cởi mở, đối mặt với khiếm khuyết của mình, cho người dân có tiếng nói, giúp chúng tôi vững mạnh hơn, thịnh vượng hơn, và công bằng hơn.
Như tôi đã nói, Mỹ sẽ không tìm cách áp đặt mô hình Chính phủ của mình lên Việt Nam. Những quyền mà tôi nhắc tới [tôi tin rằng] không chỉ của Mỹ, mà là những giá trị phổ quát, được nêu trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền. Những giá trị này cũng được viết trong Hiến pháp của nước Việt Nam: Người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền lập hội, và quyền biểu tình. Tất cả những điều này đều nằm trong Hiến pháp của Việt Nam.
Thật vậy, đây là vấn đề liên quan đến tất cả chúng ta, mỗi quốc gia, phải luôn cố gắng áp dụng những nguyên tắc đó, đảm bảo rằng chúng ta, những người giữ chức vụ trong chính quyền, đang trung thành với những lý tưởng đó.
Trong những năm gần đây, Việt nam đã đạt được một số tiến bộ. Việt Nam đã cam kết sửa đổi luật pháp cho phù hợp với Hiến pháp mới của mình và với các tiêu chuẩn quốc tế. Theo những luật mới ban hành, Chính phủ sẽ công khai hóa ngân sách nhiều hơn và người dân có quyền tiếp cận thông tin nhiều hơn. Như tôi cũng đã nhắc tới, Việt Nam đã cam kết cải cách kinh tế và lao động theo TPP. Như vậy, tất cả đều là những bước tiến tích cực.
Cuối cùng thì tương lai của Việt Nam sẽ được quyết định bởi người Việt Nam. Mỗi quốc gia sẽ vạch ra đường đi của riêng mình, vì hai quốc gia chúng ta có những truyền thống khác biệt, hệ thống chính trị cũng như văn hóa khác biệt. Nhưng là một người bạn của Việt Nam, xin cho phép tôi chia sẻ quan điểm của mình: tại sao tôi tin rằng các quốc gia sẽ thành công hơn khi những giá trị phổ quát được duy trì.
Khi có tự do biểu đạt và tự do ngôn luận, và khi người dân có thể chia sẻ ý tưởng cũng như tiếp cận Internet và mạng xã hội mà không bị ngăn cấm, điều đó sẽ thúc đẩy đổi mới, nhiên liệu cần thiết để nền kinh tế phát triển mạnh. Đó là môi trường đưa tới sáng tạo. Facebook đã hình thành như vậy. Một số các công ty lớn của chúng tôi đã bắt đầu như vậy – Vì một người nào đó có một sáng kiến mới, khác lạ. Và người đó được quyền chia sẻ nó.
Khi có tự do báo chí, khi các nhà báo và blogger có thể rọi sáng những bất công, lạm dụng, thì quan chức sẽ phải chịu trách nhiệm và xã hội sẽ thêm niềm tin vào hệ thống chính trị đang vận hành tốt.
Khi ứng cử viên được tự do tranh cử và vận động, cử tri được chọn lãnh đạo qua bầu cử tự do và bình đẳng, quốc gia sẽ ổn định hơn khi người dân biết tiếng nói của mình có tác dụng, và một sự thay đổi ôn hòa là có thể. Như thế, sẽ có thêm người gia nhập vào hệ thống.
Khi có tự do tôn giáo, không những con người có dịp hoàn toàn biểu lộ tình thương và lòng từ bi là cốt lõi của mọi tôn giáo lớn, mà những cộng đồng tôn giáo còn có thể cống hiến nhiều hơn cho xã hội qua những hoạt động giáo dục và y tế, chăm lo những người nghèo và những người bị thua thiệt trong xã hội.
Khi có tự do lập hội, khi người dân được tự do thành lập các tổ chức xã hội dân sự, thì quốc gia có thể đối đầu với nhiều vấn đề mà đôi khi Chính phủ không thể giải quyết một mình.
Do đó theo quan điểm của tôi, thượng tôn các quyền này không đe dọa mà thật ra củng cố sự ổn định, làm nền tảng cho tiến bộ.
Cuối cùng, chẳng phải các dân tộc, trong đó có Việt Nam, khi đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đều là để đòi các quyền đó sao? Tôi tin rằng nâng cao các quyền đó chính là thể hiện hoàn hảo nhất sự độc lập mà biết bao người trân trọng, kể cả ở đây, một đất nước với tuyên ngôn là "của dân, do dân, vì dân".
Việt Nam sẽ làm khác Mỹ. Và mỗi chúng ta sẽ làm khác các quốc gia trên thế giới. Nhưng đây là những nguyên tắc cơ bản mà tôi nghĩ chúng ta nên cố gắng áp dụng và cải thiện.
Vì sắp kết thúc nhiệm kỳ, tôi có lợi thế đã từng suy nghiệm suốt 8 năm về cách hệ thống của chúng tôi đã vận hành và tương tác với các quốc gia trên thế giới ra sao, những quốc gia cũng đang không ngừng cố gắng cải thiện hệ thống của họ.
Sau hết, tôi nghĩ quan hệ đối tác sẽ giúp chúng ta đối phó với những thách thức toàn cầu mà không nước nào có thể giải quyết một mình. Nếu chúng ta muốn bảo đảm sức khỏe của người dân và vẻ đẹp của hành tinh này, thì tăng trưởng phải mang sắc thái ổn định và bền vững. Những kỳ quan thiên nhiên như vịnh Hạ Long và hang Sơn Đoòng phải được bảo tồn cho các thế hệ con cháu chúng ta.
Mực nước biển dâng cao đang đe dọa những bờ biển, thủy lộ, nguồn sống của biết bao người dân Việt. Vì vậy, là đối tác trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, chúng ta cần phải tuân thủ những cam kết vừa ký ở Paris. Chúng ta phải giúp đỡ nông dân, ngư dân và những làng mạc sống dựa vào nghề chài lưới để họ có thể thích ứng với tình hình, và phải mang thêm năng lượng sạch đến những nơi như đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa của thế giới mà chúng ta cần để nuôi sống những thế hệ tương lai.
Thật là một điều đáng chú ý là hai quốc gia chúng ta đã từng đối địch với nhau, nay lại sát cánh bên nhau giúp các quốc gia khác tiến đến hoà bình. Như vậy quan hệ đối tác của chúng ta không những song phương mà còn cho phép chúng ta định hình môi trường quốc tế theo những cách tích cực.
Để tầm nhìn như tôi đã trình bày hôm nay hoàn toàn trở thành hiện thực, mọi chuyện sẽ không xảy ra trong một sớm một chiều, và cũng không phải chuyện nào cũng là tất yếu. Có thể có những vấp váp, thụt lùi trên các chặng đường. Sẽ có những lúc hiểu lầm nhau. Cần phải không ngừng cố gắng và đối thoại thực sự mà cả hai bên đều chấp nhận sẵn sàng thay đổi. Nhưng nhìn lại lịch sử và tất cả những rào cản mà chúng ta đã vượt qua, tôi đứng đây trước các bạn ngày hôm nay, với một sự lạc quan rất lớn về tương lai chung của chúng ta.
Niềm tin của tôi, như thường lệ, có nguồn gốc từ tình bạn và khát vọng chung của hai dân tộc.
Tôi nghĩ tới những người Mỹ và Việt đã vượt trùng dương, có những người được đoàn tụ với gia đình lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, và họ đang dang tay, mở rộng trái tim và nhìn thấy cả nhân loại trong nhau, nối vòng tay lớn, như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài hát của mình.
Tôi nghĩ tới những người Mỹ gốc Việt đã thành công trong mọi lĩnh vực, những bác sĩ, nhà báo, thẩm phán, công chức ... Một người trong số họ, sinh ra ở đây, đã viết cho tôi một lá thư nói rằng "nhờ ơn Chúa, tôi đã được sống giấc mơ Mỹ. Tôi rất tự hào là một người Mỹ nhưng tôi cũng rất tự hào là một người Việt Nam". Hôm nay ông ta đang ở đây, trở lại mảnh đất nơi mình sinh ra, vì ông ta nói "khát vọng của tôi là nâng cao đời sống của từng người dân Việt".
Tôi nghĩ tới một thế hệ người Việt mới – các bạn, những người trẻ đang ngồi đây – những người đang sẵn sàng để lại dấu ấn của mình trên thế giới. Và tôi muốn nói với tất cả những bạn trẻ đang lắng nghe: Với tài năng, trí thông minh, và những ước mơ của các bạn, Việt Nam đã có sẵn trong tay tất cả những gì cần thiết để phát triển và thịnh vượng.
Vận mệnh nằm trong tay các bạn. Đây là thời điểm của các bạn.
Và trong khi các bạn theo đuổi tương lai mà các bạn muốn, tôi muốn các bạn biết rằng nước Mỹ sẽ ở ngay bên cạnh các bạn, như một đối tác, và một người bạn.
Nhiều năm sau này, khi càng có nhiều người Việt và người Mỹ cùng nhau học tập, sáng tạo và kinh doanh chung, cùng nhau bảo vệ an ninh, phát huy quyền con người và chung sức bảo vệ hành tinh của chúng ta, tôi mong các bạn nhớ về khoảnh khắc này khi tôi chia sẻ tầm nhìn của tôi với các bạn.
Hay là nói một cách khác, với những câu Kiều mà các bạn quá thân thuộc:
Rằng trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi.
Cam on cac ban. Thank you very much. Thank you, Vietnam. Thank you.
T.Q. dịch

Thứ Hai, ngày 23 tháng 5 năm 2016

Không có gì sáng sủa.

Cuối cùng thì tổng thống Obama của hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng đặt chân đến Việt Nam, trong một chuyến đi tiện đường ông qua Nhật để dự hội nghị G7.

 Chuyến bay của ông đến Hà Nội vào lúc giữa đêm, điều rất hiếm đối với các chuyến bay của các nguyên thủ. Chỉ như một chuyến bay theo lịch trình dân dụng bình thường. Thế nhưng, hàng ngàn người dân Hà Nội đã thức trắng đổ ra đường để chào đón ông, nguyên thủ của một quốc gia được cho là thù địch truyền thống với Việt Nam.

Người dân Hà Nội từng hứng chịu nhiều bom của các máy bay Hoa Kỳ, họ chưa  có dịp cọ xát với văn hoá Hoa Kỳ như những người dân Miền Nam. Nếu người dân miền Nam có đến 20 năm thực tiễn để gần gũi với Hoa Kỳ , thì người dân Hà Nội có đến hơn 60 năm được nghe phổ biến, tuyên truyền rằng đế quốc Hoa Kỳ tham lam, tàn bạo, độc ác và xảo quyệt.

 Hà Nội, pháo đài của chủ nghĩa cộng sản ngự trị. Nhưng hôm nay, cái đêm mà tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam. Dòng người Hà Nội đổ xuống đường vẫy tay chào đón đoàn xe của Obama , cho thấy bên trong lòng pháo đài ấy đã có những sự thay đổi suy nghĩ từ phía người dân.

Khi Tập Cận Bình đến Việt Nam, mặc dù Tập được Đinh Thế Huynh, uỷ viên Bộ Chính Trị, người đứng thứ hai trong Đảng CSVN đích thân ra sân bay đón tiếp, sau đó với một nghi lễ đón tiếp hoành tráng bằng 21 phát đại bác. Nhưng trên các đường phố của Việt Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn, thái độ của người dân Việt Nam đều bày tỏ thái độ khinh miệt và căm phẫn đối với chuyến công du Việt Nam của Tập. Cả hai thành phố lớn của Việt Nam này đều nổ ra những cuộc biểu tình lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam.

Thế nhưng, trái với lòng dân Việt Nam. Đảng CSVN Việt Nam tiếp đón Obama một cách không thật lòng và đầy xảo trá. Trong cuộc hội dàm với Obama của Trần Đại Quang trên cương vị chủ tịch nước, đây là cuộc làm việc gần như chính thức duy nhất của hai chính phủ, còn lại là những cuộc gặp xã giao, tiếp xúc chào hỏi. Ông Trần Đại Quang trơ tráo đưa ra luận điệu lừa bịp cũ rích, rằng Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người.  Lẽ ra nếu tôn trọng tinh thần hợp tác,  để có sự tin cây và tôn trọng lẫn nhau, ông Quang có thể dùng một từ ngữ khác thay thế,  như Việt Nam đang nỗ lực cải thiện quyền con người. Nhưng ông ta không nói thế, mà khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Nhằm mục đích trả đũa lời đòi hỏi cải thiện nhân quyền của tổng thống Obama.


 Dùng đến lời nói dối mà ai cũng biết để đối đáp với một nguyên thủ quốc gia khác, như thế có nghĩa Cộng Sản Việt Nam còn muốn bày tỏ quan điểm không coi Hoa Kỳ là bạn, cũng có nghĩa Việt Nam cương quyết bảo thủ đường lối độc tài Cộng sản của mình. Hàm ý không chấp nhận sự dân chủ, đa nguyên. Nhất là để tăng thêm sự đối dầu ấy, từ Trần Đại Quang đến Phạm Bình Minh và các quan chức Việt Nam thái độ đều lạnh lùng, xa cách với Obama khi tiếp xúc.

 Để làm rõ cho Hoa Kỳ hiểu thêm về quan điểm này, phía Việt Nam đưa tổng thống Obama đến thăm khu tưởng niệm của Hồ Chí Minh. Một hình ảnh tiêu biểu lớn của ĐCSVN, để bổ sung hàm ý rằng Việt Nam kiên quyết con đường CNXH hay độc tài đảng trị đến cùng.

 Hoa Kỳ và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ hơn 20 năm, cho đến bây giờ thì hiệp định TPP và  lệnh dỡ bỏ cấm vận bán vũ khí sát thương mới đang trong dang hình thức văn bản. Vẫn còn nhiều những điều khoản nữa mới đưa các hiệp định này đi vào thực tế. Điều đó cho thấy quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ tiến triển theo mức độ rất chậm chạp và khó khăn.  Tất cả là do sự nghi kỵ, thù hằn nhỏ nhen  đối với Hoa Kỳ, còn rất nhiều trong những cái đầu quan chức cấp cao CSVN.

Nhìn nhận đúng, thì các vấn đề này không phải là sự đổi mới bất ngờ,  hay là một bước tiến nhảy vọt trong quan hệ Việt Nam, Hoa Kỳ. Nó chẳng qua là những điều đã được dự tính thực hiện từ hàng chục năm về trước. Và cho đến giờ, nhân chuyên thăm này của Obama, được hai bên chính thức được tuyên bố. Như thế chẳng có gì là đột phá như mong đợi. Cũng chẳng phải công lao hay tư tưởng tiến bộ nào của hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam hôm nay. Nó còn là một kết quá nhỏ cho từng ấy năm hai bên quan hệ với nhau trở lại.

 Không như cuộc hội đàm ở hội nghị Thành Đô, quan hệ Việt Trung đột biến thay đổi ngay sau một đêm và nâng cấp với tốc độ chóng mặt sau đó, thành đối tác chiến lược toàn diện, thành gắn bó mật thiết. Quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ dịch chuyển một cách miễn cưỡng suốt quãng đường dài hơn 20 năm qua.

CSVN nhận thấy xu thế nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là mong muốn của dân tộc và cũng là nhu cầu của đất nước. Nếu họ, tức CSVN không có những động thái mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, chỉ tập trung gắn bó với Trung Công, sẽ dẫn đến sự bất mãn của người dân Việt Nam. Vì thế họ đành quan hệ với Hoa Kỳ để xoa dịu lòng dân, nhưng mặt khác họ đang tìm cách trì hoãn đưa các mối quan hệ này phát triển đúng với tốc độ mà lẽ ra nó phải có.

 Động thái thả tự do cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý khi ông còn có 3 tháng nữa hết hạn tù trong một mức án tù dài 8 năm. Là một kiểu đãi bôi, chế nhạo của Việt Nam đối với những đòi hỏi nhân quyền của Hoa Kỳ. Trong khi đó chế độ gia tăng trấn áp những người đấu tranh cho quyền con người bằng bạo lực và bằng những trò hạ đẳng cách đây hàng nửa thế kỷ qua những cuộc biểu tình về môi trường và bầu cử trước đây mây ngày.

 Một lần nữa CSVN lại bày tỏ thái độ trung thành với tư tưởng cộng sản nguyên thuỷ và không chấp nhận những khái niệm về nhân quyền, dân chủ mà thế giới tiến bộ đang phổ quát.

 Hoa Kỳ cũng không lạ gì với những trò nhỏ mọn , tiểu nhân của cộng sản VN. Bởi thế khi tuyên bố bãi bỏ cấm vận bán vũ khí sát thương, tổng thống Obama đã cảnh báo rằng tuy nhiên điều đó được thực hiện khi một số điều kiện về nhân quyền ở Việt Nam được cải thiện. Có nghĩa Hoa Kỳ cũng  đập lại thẳng thắng những lời dối trá và lừa bịp của Việt Nam về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.

 Như thế, quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn còn rất lâu mới như sự mong đợi của những người dân Việt Nam đã đổ xuống đường chào đón tổng thống Obama vào lúc giữa đêm. Mối quan hệ này phát triển càng chậm chạp bao nhiêu thì đất nước Việt Nam càng thiệt hại về chủ quyền bấy nhiêu, người dân Việt Nam càng ngột ngạt về môi trường, tự do và kinh tế bấy nhiêu.

 Bộ mặt kìm hãm dân tộc của CSVN thêm lần nữa lộ rõ qua cách mà họ tiếp xúc với Hoa Kỳ lần này.

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 5 năm 2016

Yêu Đảng đừng nên đi bâù cử.

Đất nước Việt Nam đang lâm vào tình trạng tệ hại nhất về kinh tế, ngân sách của chính phủ thâm hụt trầm trọng, quỹ bảo hiểm xã hội có nguy cơ bị đổ vỡ. Vay nợ nước ngoài đã đến ngưỡng khó có thể vay thêm, không những thế có những khoản nợ đến hạn không có tiền thanh toán. Tiền lãi phải trả hàng năm của Việt Nam cho món nợ công lên đến hàng tỷ Mỹ Kim.

 Trong khi đó kim ngạch xuất khẩu giảm, cùng với thiên tai hạn hán ở Tây Nguyên, nhiễm mặn ở đồng bằng Nam Bộ và nhiễm độc vùng biển các tỉnh dọc miền Trung...tất cả những điều tệ hại đó chưa có dấu hiệu dừng lại. Nhà nước Việt Nam trước những thảm hoạ trên không còn cách gì để đối phó, ngăn chặn thảm hoạ. Việc duy nhất của nhà nước là đàn áp để bưng bít thông tin và móc từ hầu bao còm cõi ra cho người ngư dân vùng biển nhiễm độc 15 kg một tháng.

http://thanhnien.vn/doi-song/an-bot-gao-cua-ngu-dan-duoc-ho-tro-vi-ca-chet-704035.html

 Nhưng quan chức ở cấp dưới không biết vì túng quẫn hay vì thói quen thấy trợ cấp là xà xẻo, đã bắt người dân nhận 15 kg một tháng này phải trả tiền lệ phí vận chuyển.

http://gaongonmaiphuong.vn/ho-tro/bang-gia-gao

 Nếu tính bình quân một kg gạo trợ cấp là 15 nghìn đồng theo giá thị trường, mỗi người ngư dân được số gạo quy ra tiền là 225 nghìn một tháng. Tức khoảng 10 Mỹ Kim. Theo thông báo thì số gạo trợ cấp này chỉ trong vòng một tháng rưỡi chứ không kéo dài. Số ngư dân được hưởng trợ cấp này tuy chưa thống kê, thực tế chắc  không quá nổi 10 ngàn người. Nhưng cứ tính thật xa vời đến 1 triệu người ngư dân bị ảnh hưởng của nhà máy Formosa thải chất độc,  được hưởng trợ cấp 15 kg gạo một tháng,  thì số tiền nhà nước bỏ ra sẽ là 10 triệu Mỹ Kim

 Trong khi đó số tiền để bỏ ra chi phí phục vụ việc bầu cử lên đến 3.600 tỷ đồng. Tầm khoảng 170 triệu Mỹ Kim. Nếu cứ tính từ Quốc Hội cho đến hội đồng nhân dân các cấp là 100 nghìn người được bầu. Số tiền chi ra để phục vụ mỗi vị này bình quân là 1700 Mỹ Kim. Việc bầu cử chỉ diễn ra trong một ngày.

http://www.tintaynguyen.com/de-xuat-chi-3600-ti-dong-cho-bau-cu/154851/


Tất cả người dân Việt Nam đều biết rằng việc bầu cử chỉ là hình thức,  những ai được Đảng chỉ định chọn được bầu vào quốc hội hay hội đồng nhân dân các cấp đều sẽ trúng cử. Sở dĩ Đảng cần người dân đi bầu là để hợp thức hoá việc Đảng đã chọn người. Việc hợp thức hoá là nhằm đánh lừa dư luận là Đảng CSVN lãnh đạo đất nước có bầu cử tự do.

 Nếu là người dân tin Đảng, yêu chế độ này. Thiết nghĩ không nên đi bầu cử làm gì, có thể tuyên bố vì muốn tiết kiệm tiền cho Đảng, trong khi ngân sách đất nước đang túng quẫn, nhiều người dân đang khốn khó, việc bỏ bầu cử là cách tiết kiệm thực tế nhất. Nên tin Đảng lựa chọn nhân sự đã đúng đắn, và không đi bầu cử để tiết kiệm ngân sách cho Đảng và Nhà Nước. Nên tin tưởng và nói với Đảng CSVN rằng, chúng tôi tin Đảng dến nỗi không cần có bầu cử mà đất nước vẫn có tự do, dân chủ. Vì thế mới cần Đảng lãnh đạo, chứ có đảng CSVN lãnh đạo rồi mà vẫn phải mượn đến trò bầu cử lừa bịp này để chứng minh với thế giới là VN có tự do dân chủ thì cần đảng lãnh đạo làm gì.

 Thực tế  chế độ CSVN thiếu thốn tiền bạc nghiêm trọng đang diễn ra, việc bầu cử chỉ là hình thức. Những người dân nào cầm lá phiếu đi  một cuộc bầu cử vô nghĩa,  tốn đến hàng trăm triệu Mỹ Kim này, sẽ  không phải là người dân yêu chế độ CNXH hiện nay, yêu Đảng Cộng Sản quang vinh,  mới đang tâm đi bầu cử .  Bởi làm như thế, là tiếp tay phung phí tiền của đất nước, làm tiêu hao tài chính của Đảng, xói mòn sức chiến đấu của Đảng vì thâm hụt ngân sách cho bầu cử.


 Vì thế, những người dân yêu Đảng yêu chế độ hãy ở nhà vào ngày 22 tháng 5 năm 2016 này, không đi đến các điểm bầu cử, để thể hiện lòng tin tưởng son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, cũng như thể hiện tình thương mến với Đảng CSVN, trong lúc Đảng đang nguy ngập thiếu thốn tiền bạc đủ bề.

Bỏ ra hàng trăm triệu Mỹ Kim bây giờ, Đảng như con thú già nua, đói ăn, tàn tật phải tự cắn vào chân tay mình để ăn chống đói. Như một kẻ rách áo phải xé vải quần đắp lên để che đậy phần trên người ta dễ thấy. Đảng cắn răng bỏ ra vài trăm triệu Mỹ Kim để  hy vọng hợp thức hoá quốc hội tay sai dán mác nhân dân lựa chọn. Qua đó Đảng điều khiển quốc hội phê duyệt những dự luật mới để bòn vét xương máu trong nhân dân, hòng bù đắp lại phần đã bỏ ra trước đó. Hoặc để quốc hội phê chuẩn những khoản vay bên ngoài giá cắt cổ mang về cho Đảng chi dùng, nuôi quân đội, công an bảo vệ Đảng.

Vì thế những người không tin tưởng vào Đảng, cũng không nên đi bầu cử. Đi bầu một cuộc bầu cử như vậy chính là hợp thức hoá cho người ta có cớ để bóc lột mình.

 Nhưng hãy cứ nêu lý do không đi bầu cử, là muốn tiết kiệm cho chế độ, cho Đảng. Đấy cũng là một lý










Đại Vệ Chí Dị.

Nước Vệ , triều nhà Sản năm thứ 72.

Năm Vệ Kính Vương thứ 6,  nhân Sản Hội thứ 12, họp quần thần phế truất được Bạo. Quyền lực tập trung cả về Vương phủ. Vệ Kính cho các bầy tôi vào vị trí trọng yếu trong triều.

 Cả Sáng người đất Ninh, nổi tiếng là thần đồng, 16 tuổi đỗ thám hoa. Tương truyền thân mẫu Cả Sáng lúc mang thai Sáng đến 6 năm mới sinh. Cả Sáng sinh ra mặt mũi sáng sủa, nhưng con mắt lạnh lùng. Thầy bói người đất Trường Yên thấy Cả Sáng chơi ngoài bãi sông, bèn nói.

- Thằng bé này ắt về sau sẽ làm to.

Sáng sung lính bộ Hình, năm 20 tuổi đã được làm quan. Đến thời Vệ Cường Vương, người đất Ninh được Cường chọn làm vây cánh cho Vương phủ, Sáng nhờ thế mà cũng được nương theo.

 Khi Vệ Kính lên ngôi, tiếp quản Vương Phủ. Thấy Sáng mặt mũi khôi ngô, tính tình tàn nhẫn, có thể tin cậy được. Kính Vương cất nhắc Sáng liên tục, từ trong đám tướng bộ Hình, Sáng được Vương đưa vào lên làm đại thần bộ Hình, rồi làm đại thần chủ Quốc.

 Sáng nắm chức lớn thứ nhì trong nước, quyền nghiêng thiên hạ. Lúc đã yên vị, bèn trả công cho bọn vây cánh đất Ninh bằng cách cho chúng thầu xây khu du lịch tâm linh ở núi Cốc, lại tính cho bọn ấy làm đập để thu thuế thuyền bè trên sông Huyết.

 Nước Vệ năm ấy  dường như động long mạch, ngân khố cạn kiện, thiên tai xảy ra khắp nơi. Cả dọc Tây Nguyên hạn hán đến cỏ cũng chết khô vì thiếu nước, đồng bằng Tây Nam nước biển tràn dâng không thể trồng trọt. Đã thế ven biển miền Trung cá bị ngộ độc chết dạt vào bờ thối rữa rất đáng sợ.

Tiếng ai oán của người dân dậy khắp bốn phương.  Vệ Kính Vương họp quần thần bàn kế đối phó.

Quần thần có người nói.

- Dân đói dễ sinh loạn.

Vương quát.

- Có lẽ đâu tuỳ tiện thế, cứ đói là làm loạn được sao.?

Cả Sáng nói.

- Dân Vệ nhiều lúc không có cái ăn, phải độn ngô khoai vào gạo mà vẫn trung trinh với triều đình. Mầm gây loạn là do bọn phản loạn xúi dục mà ra, cứ đánh cho bọn chúng tan xương nát thịt là đâu vào đấy cả.


Cả triều nghe thế đều gật gù khen phải, bỗng có người bước ra nói.

- Muốn dân không loạn, đánh chúng đã hay, nhưng cần làm chúng phân tán tư tưởng.

Mọi người quay ra nhìn, thì ra Sanh Phước người xứ Quảng, mới được phong làm tể tướng thay Bạo.

 Phước hình dong cổ quái, đầu nghiêng một bên, mắt rắn, miệng mỏng, tính tình kiên nhẫn biết chớp thời cơ. Phước làm bộ hạ cho Bạo, lúc trước thấy Bạo và và Kính sắp tranh giành ngôi vương, Phước lựa lúc thích hợp đem hết sổ sách phủ Chúa lẻn sang Vương Phủ xin làm bộ hạ. Nhờ thế sau được Vương cho làm tể tướng.

Vệ Kính Vương nói.

- Chuyện làm phân tán,  đại thần Đường Hoang dày dạn kinh nghiệm gánh vác đến đâu rồi.?


Đường Hoang người trấn Sơn Nam Hạ, là thủ túc tâm đắc nhất của Vệ Kính Vương, bởi xuất thân cùng nghề tuyên huấn. Thấy Vương hỏi vậy, biết là Vương còn có ý muốn giới thiệu ngầm mình với triều là người kế vị Vương, bèn vội bước ra đáp.

- Thưa bá quan văn võ, bản quan dã cho người phao tin cá chết khắp nơi, nguyên nhân muôn vàn, dân chúng giờ hoang mang không còn dám khẳng định cá chết ở miền Trung là do ta cho bọn Phú Mạnh Sang đổ chất thải. Cũng đã tuyên truyền trong dân chúng những kẻ nào rêu rao việc cá chết là bọn phản loạn muốn phá hoại bình yên đất nước, cùng với việc đại thần Cả Sáng cho quân đàn áp. Vừa cương vừa nhu , nay việc cũng đã có thể nói giảm được 7 phần.


 Phước thấy Đường Hoang nói thế, công trạng đã về hết tay bọn Cả Sáng, Đường Hoang. Bèn bất chợt nảy ra ý, tiến đến giữa điện, vòng tay nói.

- Giảm được 7 phần đã gần như hết lo, nhưng nay ngân khố cạn kiệt, dân chúng bàn tán chuyện cá chết khắp nơi.  Bản quan muốn thu vàng trong dân để bổ sung ngân sách. Vừa có tiền lại vừa khiến dân chúng chả còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện cá chết.

Triều thần nhà Sản nghe đến chuyện thu vàng của dân, ai nấy đều hoan hỉ vỗ tay rầm rầm.

 Nhà Sản làm nhiều điều bất kính với tổ tiên nước Vệ, trời vì thế nổi giận mà reo tai hoạ. May nhờ Vệ Kính Vương anh minh, biết chọn được hiền tài trung thành một lòng vì Sản Vệ, cùng nhau đêm ngày lo nghĩ mưu kế để duy trì triều Sản. Nhờ thế mà qua được bình yên.

Đấy cũng là phúc phận của Vệ Kinh Vương mà triều Sản còn vững đến ngày nay.





Thứ Sáu, ngày 13 tháng 5 năm 2016

Uy tín chính phủ mới ?

Không cần đến một quốc hội mới được thành lập lại ở kỳ bầu cử tới đây, đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ đạo quốc hội cũ hoàn tất cuộc lựa chọn chính phủ mới đứng đầu đầu là Nguyễn Xuân Phúc.

 Bỏ qua những tin tức về gia sản của con gái và con rể Nguyễn Xuân Phúc, cũng như những trò phản thùng đầu quân cho Nguyễn Phú Trọng để hạ bệ Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc đua chức tổng bí thư với Nguyễn Phú Trọng.

Uy thế của Phúc nương nhờ vào Nguyễn Phú Trọng, bởi vậy Phúc không được các đồng chí của mình coi trọng cao. Do Nguyễn Phú Trọng đã quá cao tuổi và có thể ra đi bất cứ lúc nào trong vòng 5 năm tới. Bản thân Phúc quá trình hoạt động trước khi làm thủ tướng không có gì nổi bật. Những yếu tố đó khiến Phúc không có uy thế cho bản thân.

 Không tạo được cho mình uy tín cá nhân, một điều rất khó cho Nguyễn Xuân Phúc điều hành chính phủ trong nhiệm kỳ của mình.

Đây là khó khăn thứ nhất của Nguyễn Xuân Phúc.


 Khi Phúc nhậm chức thủ tướng, Việt Nam bất ngờ đối phó với những thiên tai khủng khiếp đến dồn dập. Nó không phải như một trận động đất hay lũ quét đi qua ào ào. Những thiên tai dai dẳng đến hàng tháng trời và có vẻ không có sức mạnh nào có thể khắc chế được. Đó là hạn hán ở Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở Tây Nam Bộ và vụ cá chết ở bốn tỉnh ben biển mới đây.

http://dangcongsan.vn/thoi-su/xam-nhap-man-o-nam-bo-han-han-o-trung-bo-va-tay-nguyen-van-dien-bien-phuc-tap-384157.html

Tất cả những tai hoạ trên đều diễn ra trên diện rộng và gắn liền với đời sống thực tế của người nông dân, ngư dân và nhiều ngành nghề khác. Chính phủ hoàn toàn bất lực với những tai hoạ này, những sự trợ giúp tượng trưng như 15 ký gạo một tháng cho một người là cố gắng nhất,  bộ máy chính phủ mới thiên về tập trung bưng bít thông tin để dân chúng khỏi lo lắng. Cách hiệu quả nhất mà họ có thể làm được khi đối phó với các tai hoạ trên là bưng bít thông tin và đàn áp dư luận.

Các diễn biến tai hoạ và động thái của chính phủ mới như dấu hiệu cho thấy , chính phủ mới không được lòng trời và cả lòng người.

Với đồng chí không được nể trọng, với nhân dân không được nể phục, với đất trời không nhận được sự bao dung. Có lẽ tân thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ trông mong vào uy tín của mình với quốc tế để nhờ sự giúp đỡ về kinh tế.

 Nhưng thật đáng buồn, ngân hàng thế giới ra tuyên bố sẽ xem xét chấm dứt cho Việt Nam vay ưu đãi vào năm 2017. Tức chỉ còn một năm nữa là tuyên bố này có thể sẽ được thực hiện. Trong khi ngân sách chính phủ thâm hụt, không có nguồn tiền bổ sung. Sự cảnh báo của ngân hàng quốc tế là một đòn nặng giáng xuống chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Bởi nếu ngân hàng thế giới ngừng cho vay, những nguồn vay khác sẽ cũng phải cân nhắc cho Việt Nam vay tiền.

Vào năm 2015, chính phủ lúc đó do Nguyễn Tấn Dũng háo hức đưa ra một dự báo rằng sẽ phát hành 10 tỷ usd trái phiếu vào năm 2016. Nhiều tờ báo ca tụng rằng Việt Nam vay được tiền như thế là do uy tín đất nước cao, bởi cao quốc tế mới tin tưởng mua trái phiếu. Đến đầu năm 2016 khi có kết quả đại hội Đảng cộng sản VN khoá 12 đã rõ ràng, thứ trưởng Bộ tài chính Trần Xuân Hà đặt ra nhiệm vụ cho thị trường trái phiếu như sau.


'' tiếp tục huy động vốn hiệu quả cho NSNN, hỗ trợ đắc lực cho Chính phủ trong việc cơ cấu lại nợ trong nước bằng việc tiếp tục phát hành trái phiếu có kỳ hạn dài, trong đó kỳ hạn 3 năm chiếm 30%, các kỳ hạn từ 5 năm trở lên chiếm 70%, tăng cường tính thanh khoản của thị trường bằng cách thu hút nhà đầu tư nước ngoài, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, kỳ hạn phát hành, chuẩn bị đưa thị trường phái sinh vào hoạt động. '' hết trích.

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nam-2016-phat-hanh-220-000-ty-dong-trai-phieu-chinh-phu-20160123101341126.chn

Từ chỉ đạo của Bộ Tài Chính, sẽ cho ta thấy chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đang cực kỳ khát tiền để cơ cấu lại nợ, nói nôm na đây là việc hoãn nợ, đáo nợ. Thời hạn thanh toán trái phiếu 5 năm có đến 70%, tại sao lại là 5 năm chiếm đến 70%. Thứ nhất là nhiệm kỳ của chính phủ chỉ trong vòng 5 năm, thứ hai mức lãi suất trái phiếu 5 năm  hấp dẫn nhất với người mua bởi lãi suất đến gần 6,4 %. Cái gọi là đa dạng hoá kỳ hạn thực ra là mỹ từ để che đậy việc khát tiền vay nóng.

Trong khi đó lãi suất trái phiếu 5 năm của Phi Luật Tân là 3, 9%, Trung Quốc là 2,7%. Việt Nam là nước lãi suất trái phiếu đứng đầu khu vực Đông Nam Á.

Lãi suất cao vậy, có nghĩa uy tín không được đảm bảo cho lắm. Nhưng thế chưa phải là tệ hại, khi đã đưa mức lãi suất cao ngất ngưởng và thời hạn chỉ 5 năm để phát hành trái phiếu. Qua thăm dò không thấy có người mua, để tránh nhục nhã. Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đành bỏ phát hành trái phiếu như dự định, với lý do rằng thời điểm này lãi suất như vậy là cao.

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/hoan-phat-hanh-3-ty-usd-trai-phieu-quoc-te-20151118093942928.htm

 Giải thích của chính phủ với việc hoãn trái phiếu như chuyện ngụ ngôn Con Cáo Và Chùm Nho. Cũng như chuyện ngân hàng thế giới không cho vay tiền, sợ mất uy tín, báo chí Việt Nam phải bịa ra thanh minh rằng, Ngân hàng thế giới vẫn đánh giá Việt Nam có mức nợ công an toàn. Hoặc khôi hài hơn là có bài báo giật tiêu đề Việt Nam đâu túng thiếu mà phải đi vay mãi.

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/301089/viet-nam-dau-tung-thieu-den-muc-phai-di-vay-mai.html

 Nhưng điều bóng gió đáng chú ý ở bài báo Việt Nam không túng thiếu này, là việc ám chỉ tiền của còn trong nhân dân. 20 ngày sau khi có bài báo lớn tiếng này, một kiến nghị đã được đưa ra, đó là  không vay được ODA thì tính chuyện huy động vàng trong dân.!!!

Không vay được bên ngoài, trái phiếu bán không ai mua, chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chọn con đường cùng là nhằm vào tiền ngoại tệ và vàng dự trữ trong nhân dân. Bắt đầu bằng việc kiểm soát ngặt nghèo mua bán vàng và ngoại tệ trong nhân dân, rồi đến lãi suất gửi vàng và ngoại tệ ở mức thấp dần đi...Chính phủ làm mọi cách để vàng của người dân trong tay họ là vô giá trị, chỉ có cách bỏ ra mua trái phiếu của chính phủ là sinh lời. Nếu không, cứ dể yên một chỗ, mọi hành vi mua bán, giao dịch nếu không cẩn thận sẽ bị tịch thu theo nghị định 95.

http://plo.vn/kinh-te/tich-thu-usd-mua-ban-trai-phep-bat-ke-nguon-87063.html

http://cand.com.vn/Kinh-te/Mua-ban-vang-trai-phep-co-the-bi-tich-thu-tien-vang-va-phat-nang-218737/

Khi chính phủ không còn uy tín với quốc tế để vay tiền từ những nơi minh bạch. Những người dân  phải tính chuyện giữ túi tiền dự trữ của mình trước cơn thèm khát của chính phủ. Đồng thời phải cảnh giác trước những khoản vay mờ ám của chính phủ với những quốc gia dã tâm không tốt với đất nước Việt Nam. Bởi khoản vay ấy sẽ kèm theo những điều kiện mang hậu quả khó lường với các thế hệ sau này như môi trường, chủ quyền, văn hoá và lãi suất cao.

Thật khó khăn cho chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, người tiền nhiệm của ông ta đã vay hết những nơi có thể vay. Đến lượt ông ta chỉ còn cách cưỡng ép dân cho chính phủ vay. Nhưng chẳng có gì đáng thương cho Nguyễn Xuân Phúc, vì nếu vay được ở đâu bên ngoài thì ông ta cũng làm như người tiền nhiệm trước đó của mình, là vay lấy được. Chuyện người đi sau không vay được đâu nữa hoặc phải è cổ trả lại là chuyện đời sau, không phải của ông ta.

 Chính phủ của Đảng cộng sản chọn ra,  kiểu gì cũng sẽ uy tín như vậy mà thôi.




Thứ Ba, ngày 10 tháng 5 năm 2016

Vài suy nghĩ về Đại Vệ Chí Dị của Bùi Thanh Hiếu - Đỗ Trường.

Có thể nói, một vài thập niên gần đây, Đảng luôn kêu gào cởi trói cho các văn nhân, nghệ sĩ, nhưng giới cầm bút dường như vẫn không thoát ra khỏi cái thòng lọng, dây trói trong tay của Đảng. Do vậy, một số nhà văn có tư tưởng tự do, công lý còn ở trong nước buộc phải sử dụng những thủ pháp nghệ thuật độc đáo riêng, lách ra khỏi cái vòng kim cô ấy, nhằm đưa được tác phẩm của mình đến với người đọc. Những cây bút ấy tuy không nhiều, nhưng tư tưởng cũng như sự can đảm của họ đã vượt qua sự suy nghĩ của rất nhiều người. Trong số đó phải kể đến nhà văn Võ Thị Hảo với Giàn Thiêu, Dạ Tiệc Qủi, Phạm Thành với Hậu Chí Phèo, Cò Hồn Xã Nghĩa, Văn Biển với Que Diêm Thứ 8… Và gần đây nhất cuốn Đại Vệ Chí Dị của Bùi Thanh Hiếu (Người Buôn Gió) do nhà xuất bản Vipen (Berlin) in ấn, tác giả tự phát hành. Đây là cuốn sách khá dày dặn (564 trang), tôi vừa nhận được từ Tiến Sĩ Peter Knost và nhà thơ Thế Dũng đồng Giám đốc Vipen gửi tặng và yêu cầu viết lời giới thiệu.
Tuy đã gặp gỡ và khật khừ bia rượu với nhau vài lần ở nơi bạn bè, nhưng quả thật tôi chưa đọc Bùi Thanh Hiếu, ngoài mấy bài báo mang tính thời sự. Nên ngày 7 tháng 3 năm 2015 vừa qua ở Hà Nội, khi bị bắt để trục xuất về Đức, công an Việt Nam hỏi cảm nghĩ về thơ văn Bùi Thanh Hiếu, tôi không thể trả lời.
Bùi Thanh Hiếu sinh năm 1972 tại Hà Nội, thuộc thế hệ trẻ, nhưng được cho là cây viết già. Đọc Bùi Thanh Hiếu, thấy cuộc sống khổ ải đầu đời của hắn tựa như thời tuổi trẻ của tôi cũng đã phải trải qua. Nhưng cái kết, hắn trở thành giang hồ thứ thiệt (theo đúng cả hai nghĩa) còn tôi chỉ là thứ giang hồ vặt “ Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà“. Tuy thế hệ, tuổi tác có cách khá xa, nhưng hiện tại hắn và tôi có đặc điểm chung nữa là: Ngồi bệt. Do vậy, khi đọc, tôi thấy cái sự đồng cảm của mình đôi lúc lấn át cả khiếm khuyết trên những trang văn của hắn.
Có thể nói, Đại Vệ Chí Dị không chỉ đưa tên tuổi Bùi Thanh Hiếu đến với bạn đọc người Việt trong và ngoài nước, mà còn đến với cả những chính khách, người ngoại quốc quan tâm đến Việt Nam.
*Bộ mặt thật của chế độ thối nát đương thời.
Nếu các nhà văn Võ Thị Hảo, Văn Biển, Phạm Thành… đã mượn cõi ảo, lấy vô hình rọi vào cái hữu hình, thì với tác phẩm Đại Vệ Chí Dị, Bùi Thanh Hiếu kéo hiện thực lùi về quá khứ để bóc trần sự thật thối nát của xã hội đương thời, và thân phận con người. Có thể khẳng định, không riêng Đại Vệ Chí Dị, mà tất cả những sáng tác của Bùi Thanh Hiếu trước đây cũng như hiện nay đều bám vào cuộc sống, xã hội và đầy ắp tính thời sự nóng hổi. Dù bút pháp, cung cách chuyển tải mỗi tác phẩm hoàn toàn khác nhau.
Có một số nhà nghiên cứu cho rằng: Bùi Thanh Hiếu đã ghi lại những gì trông thấy ở nước Vệ, triều Sản để phản anh thực trạng xã hội Việt Nam bây giờ. Tôi không hoàn toàn đồng ý như vậy, và câu trên xin phép đổi lại vế đầu: Trong hoàn cảnh kiểm duyệt tư tưởng, sách, báo bằng an ninh và tù đày như ở Việt Nam hiện nay, buộc Bùi Thanh Hiếu phải mượn, hay vẽ ra bối cảnh, xã hội triều Sản, nước Vệ nào đó, để phản ánh, bóc trần sự thật ghê tởm đang diễn ra hàng ngày trong cung đình Cộng sản và nỗi thống khổ của tầng lớp bị trị.
Có một điều quả thật chưa rõ ràng, đến lúc này ngồi viết, tôi vẫn không nghĩ, Đại Vệ Chí Dị là cuốn tiểu thuyết, như đã được in, đánh giá trong cuốn sách. Bởi tác giả không sáng tạo (tiểu thuyết hóa) những tình tiết sự việc. Mà Bùi Thanh Hiếu đã bê nguyên xi bối cảnh, nhân vật, sự kiện hoàn toàn có thực đã và đang diễn ra dưới chế độ xã hội đương thời vào trang sách của mình. Tuy nhiên, sự trần thuật ấy được dẫn dắt bởi văn phong cổ mang dáng dấp sử ký. Với văn phong này, tác giả không chỉ dẫn dắt những độc giả lớn tuổi, mà dường như giới trẻ cũng bị cuốn hút bởi nghệ thuật gieo mầm, cài đặt cùng những tình tiết sự việc được đan xen một cách sinh động, kết thúc từng hồi, rất kịch tính khi đọc.
Tôi cho rằng, đây cũng là thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của Đại Vệ Chí Dị. Và cùng với nó, tác giả đã rất thành công chuyển tải ý đồ của mình đến người đọc. Dù xuyên suốt tác phẩm là những câu chuyện ngoài đời, tình tiết sự việc được xâu chuỗi lại, thông qua lời kể.
Tuy được bắt đầu bằng nhân vật Tiên Đế (Hồ Chí Minh), nhưng Đại Vệ Chí Dị lại xoáy sâu vào mâu thuẫn, bè phái cũng như sự đê hèn của Đảng và chính quyền (cung vua, phủ chúa) trước dã tâm của giặc phương Bắc. Từ đó, ta có thể thấy được nỗi đau của dân tộc và thân phận rẻ mạt của con người, từ sau công cuộc được gọi là đổi mới đến nay.
Và từ đây, một lần nữa, Bùi Thanh Hiếu lại mượn bối cảnh, sân khấu cung vua , phủ chúa thời Lê- Trịnh để phơi bày dã tâm, đấu đá tranh giành quyền lực, giữa Đảng và chính quyền (giữa Tổng bí thư và Thủ Tướng). Làm người đọc phải rùng mình kinh hãi, trước sự thối nát của một chế độ độc tài với hai thế lực (Đảng và Chính phủ) đầy đủ quyền hành, ban bệ chồng chéo đang trèo đầu cỡi cổ, hút kiệt sức dân. Và nỗi thống khổ ấy càng được nhân lên, bởi chính sách cai trị không chỉ bóp, thiến dạ dày bao tử, mà còn bủa vây, bưng bít giam hãm những suy nghĩ, tư tưởng con người. Đoạn trích đưới đây, chỉ là một trong hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện đang lưu truyền trong dân gian. Nó đã được Bùi Thanh Hiếu hình tượng hóa vào trang viết của mình một cách sâu sắc, sinh động. Tuy tiếng cười là đấy, nhưng quặn lên những nỗi đau, bởi chân tướng thực sự đã được phơi bày, lòng tin của con người đã bị đánh cắp, trước sự lừa bịp cũng như mưu mô, nham hiểm của tập đoàn thống trị, ngay từ khi cướp được chính quyền. Và với tôi, có lẽ đây là đoạn văn lột mặt của sự thần tượng hóa, một cách thâm thúy nhất trong tác phẩm Đại Vệ Chí Dị:
“Quần thần xúm lại xin ngài kể rõ câu chuyện. Kính Vệ Vương kể rằng :
– Năm xưa thuở núi rừng; mưu chí lớn bình thiên hạ. Có người thuộc hạ hỏi tiên đế sau này nếu dựng được nghiệp thì trị dân thế nào? Tiên đế mới sai người đó vào rừng bắt sống một con khỉ. Bảo người ấy nhốt trong lồng, lúc đầu cho ăn hoa trái đầy đủ, càng ngày cho càng ít đi đến lúc mỗi ngày con khỉ chỉ ăn được một quả chuối, con khỉ vẫn vui vẻ vô tư. Sau đó tiên đế sai ngươi ấy đem cái lồng khỉ vào rừng. Mỗi ngày cho ăn vẫn chỉ một quả chuối.
Được 7 ngày thì con khỉ trong lồng nhăn răng ra mà chết. Người đó về tâu với tiên đế chuyện khỉ chết, tiên đế cười hà hà bảo:
– Ta nghĩ nó sống được đến 5 ngày thôi, ai ngờ lâu thế!
Người kia mới hỏi tại sao khỉ mang vào rừng cho ăn vẫn thế mà chết. Tiên đế bảo:
– Tại vì khi trước nó ăn như thế, nó nghĩ rằng cả loài khỉ cũng chỉ ăn thế. Khi bị đưa vào rừng nó thấy không phải vậy, các con khỉ khác tự do kiếm ăn, ăn uống tha hồ thoải mái, nó không được ăn thế, nó buồn rầu, tức tối rồi không làm gì thoát được cảnh đó sinh bệnh mà chết. Ấy là lẽ tự nhiên, con người cũng vậy mà thôi, nếu họ khổ mà không có gì so sánh thì tất họ nghĩ đó là lẽ đương nhiên của đất trời, số mệnh, họ hài lòng sống. Nhưng nếu họ có gì để so sánh thì tất lòng dạ sẽ sinh nghi, mầm họa từ đó sẽ mà ra. Đạo trị dân chỉ đơn giản có vậy…“ (Sách đã dẫn-trang 128)
Qua Đại Vệ Chí Dị cho ta thấy, Tác giả có trí tưởng tượng rất phong phú. Tuy bút pháp giả cổ, nhưng biến hóa khôn lường, Bùi Thanh Hiếu đã hình tượng hóa một cách điêu luyện cuộc tranh giành quyền lực giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bằng những cuộc đọ sức sống mái trên chiến trường. Có thể nói, đây là những trang viết sinh động. Nó không chỉ bóc trần được dã tâm, sự tàn bạo của chế độ Cộng sản, mà còn mang đến cho người đọc những giây phút hồi hộp và sảng khoái nhất. Đoạn trích dưới đây, chưa hẳn đã là đoạn văn tiêu biểu, nhưng với những diễn viên Trăm Xanh Nguyễn Bá Thanh, Báu Mã Phạm Qúi Ngọ và tù binh anh em nhà Dương Chí Dũng, thì sân khấu hề chèo của giới chóp bu Hà Nội đã được mở ra:
“ Bấy giờ bên Phủ Chúa, cơn giận dâng tràn. Thủ hạ của phủ cứ lần lượt vào vòng lao lý, ác cái mỗi lúc lại lên cấp cao hơn. Cứ đà này chả mấy chốc nước dâng đến ngai Chúa. Nhưng giờ bên kia, đại tướng của Vương Phủ là Trăm Xanh dẫn quân tung hoành. Trăm Xanh đánh trận mở đầu trảm được Dương anh, bắt sống Dương em. Khí thế ngút trời, thừa thắng định dẫn quân xông vào bộ Hình bắt sống nốt Báu Mã tướng quân. Báu Mã tướng quân lo sợ, cáo bệnh, đóng doanh trại, không dám ra ngoài thành nghênh chiến. Trăm Xanh cho quân bủa vây, tình trạng Báu Mã nguy cấp vô cùng. Nhưng giờ còn chưa biết Vương Phủ có mưu kế gì mà Trăm Xanh dũng mãnh đến vậy. Phủ Chúa lo lắm nhưng vẫn phải dò xét thêm.
Phía ngoài phủ phó thượng thư bộ Hình Báu Mã, đại tướngTrăm Xanh hiên ngang cưỡi ngựa ô, truyền cho chưởng tòa hình mang chiến thư dán trước phủ. Thông báo ngày một hay hai sẽ phá thành bắt tướng. Một mặt truyền tin về Vương Phủ, báo tin trận đầu thắng lợi.“ (Đại Vệ Chí Dị-Sách đã dẫn)
Tuy không nghĩ, Đại Vệ Chí Dị là cuốn tiểu thuyết, và khi tôi đọc, tiếp cận nó bằng mạch văn ký sử. Nhưng phải nói, hồi 103 (Tái Ngộ Qủi Môn Quan) đã được Bùi Thanh Hiếu tiểu thuyết hóa, với hình ảnh siêu thực, lời văn ẩn dụ sâu sắc.
Đây là sự sáng tạo độc đáo của tác giả, khi để hai đồng chí, cũng là cựu thù bởi tiền tài, quyền lực, gặp lại nhau ở nơi Qủi Môn Quan. Hình ảnh này, làm tôi nhớ đến linh hồn vật vờ của hai người lính ở hai chiến tuyến nơi Cổ Thành trong tác phẩm Dạ Tiệc Qủi của nhà văn Võ Thị Hảo. Có khác chăng, linh hồn hai nguời lính trẻ của Dạ Tiệc Qủi hiện cong lên dập dờn như những câu hỏi cho cả một dân tộc, còn hai ông quan đại thần trong Đại Vệ Chí Dị thực sự nhận ra con đường mình đã đi: “Chúng ta cả đời lầm lạc, theo phường bá đạo, để đến lúc này không biết kêu ai“
Vâng! Âu cũng là sự luân hồi, quả báo chăng? Đây là những trang viết hay của Bùi Thanh Hiếu. Và là một trong những chương (hồi), tôi thích nhất trong cuốn sách này:
“Mã nghe tiếng kẻng báo, đứng dậy vòng tay cáo từ, lúc nhờ Xanh đặt hộ hòn đá lên đầu, Mã chỉ đống đá nói:
- Vua, Chúa tiếm ngôi, bất nhân, bất nghĩa. Trời nào cho thiên mệnh, cái hòn đá to ông ngồi là để Vua và Chúa ai xuống trước thì đội đấy.
Trăm Xanh chợt ngộ, hối hận khóc oà, ôm lấy Báu Mã nói.
- Chúng ta cả đời lầm lạc, theo phường bá đạo, để đến lúc này không biết kêu ai. Xin ông bỏ qua chuyện ngày xưa.
Mã nặng nhọc vì gông, xiềng, đá hổn hển trả lời.
- Tôi đã trả tiền đò cho ông rồi đấy thôi.“ (Đại Vệ Chí Dị- Sách đã dẫn)
Với cái chết của Báu Mã Phạm Qúi Ngọ và Trăm Xanh Nguyễn Bá Thanh như một lời cảnh báo trước cho sự sụp đổ của một thể chế, một triều đại độc tài, thối nát.
Phải chăng đó là qui luật tất yếu của lịch sử, và cũng chính là tư tưởng của tác giả, tác phẩm muốn gửi đến người đọc?
*Thân phận đất nước và con người.
Chắc chắn rằng, chỉ có những vĩ nhân, những anh hùng xả thân bảo vệ đất nước mới để lại danh thơm cho hậu thế. Và trong văn học cũng vậy, sống được và còn đọng lại với đời phải là những trang viết dám chọc thẳng vào cái ung nhọt của xã hội, đứng về phía công lý, lẽ phải của con người.
Khi đọc và nghiên cứu Đại Vệ Chí Dị, tôi nhận ra, tác giả không chỉ ghi lại từng biến cố đã và đang xảy ra, mà còn cảm được thái độ cũng như trách nhiệm của người câm bút trước thời cuộc. Thái độ cũng như tư tưởng ấy của tác giả thường được cài đặt vào những câu thoại của nhân vật dẫn truyện, hoặc lời bàn của người thời nay.
Và có thể nói, nếu như tác giả không hóa thân vào những người dân oan bần cùng, những biểu tình viên bị đánh dập mặt, hay một trí thức can trường đang bị giam cầm trong ngục tối…để viết, thì hình ảnh họ không thể hiện lên một cách trung thực và sống động đến như vậy.
Với ngòi bút tưởng như đùa cợt, bông lơn, nhưng hình ảnh đê hèn, nhu nhược của Đảng trước giặc phương Bắc và đằng sau nỗi đớn đau ấy là ý chí không thể khuất phục của người dân hiện lên rất đậm nét, thâm sâu. Đoạn trích dưới đây, là câu chuyện được lưu truyền trong dân gian, nhằm vạch trần thủ đoạn trấn áp cũng như nhu nhược hóa con người của chế độ đương thời. Nó đã được tác giả nhân cách hóa vào trang văn, làm người đọc phải bật ra tiếng cười cay đắng:
“Chỉ cần gom bá tánh lại, đổi thành vài họ, như họ Khiếp, họ Nhược, họ Cơ là xã tắc yên lành. Những kẻ làm quan lấy họ Cơ. Những kẻ trí sĩ, nhân tài có hiểu biết mang họ Nhược, còn dân đen lấy họ Khiếp. Những kẻ không mang họ ấy, tất là bọn mang mầm mống phản loạn…
Hàng ngày công sai nhà Sản đi lùng sục giữa các phố phường, thấy quán xá, vườn hoa nào đông người là xộc tới hỏi danh tính. Kẻ nào họ Khiếp, họ Nhược thì không sao, những kẻ mang họ khác đều bị bắt lên xe bát mã một đống về phủ trị tội.
Riêng họ Cơ là họ nhà quan, có dấu ấn riêng không bị xét hỏi. Họ này từ vua chúa nhà Sản đều dùng, như Cơ Nông Cường, Cơ Nguyễn Bạo, Cơ Nguyễn Kính, Cơ Nguyễn Vượng…“ (Đại Vệ Chí Dị-Sách đã dẫn)
Có thể khẳng định, một chế độ độc tài, dối trá, và lưu manh, với những bè phái chém giết, tranh giành tiền tài và quyền lực, thì điều hiển nhiên đất nước ấy đang đứng trên hố sâu vực thẳm.
Thật vậy! Đọc Đại Vệ Chí Dị, ta có thể thấy, dưới sự thống trị của Đảng đất nước đang đi đến tuyệt lộ. Xã hội đã bị lưu manh hóa đến thượng tầng, với những băng đảng hợp pháp đang hút kiệt tài nguyên và sức người. Môi trường thiên nhiên bị tàn phá một cách tàn nhẫn, man rợ. Mọi quan hệ xã hội, làng xóm, gia đình đều được đong đếm bằng tiền bạc. Nạn kiêu binh, âm binh nổi lên đàn áp, ức hiếp chính những người khốn khổ, đang ngày đêm è cổ nuôi dưỡng mình. Chúng ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây, để thấy được sự tha hóa đến tận cùng của xã hội và con người:
“Công sai đi tuần ráo riết hàng giờ ngoài đường, thấy lỗi gì của dân dù nhỏ cũng không buông tha. Quan lại không có tiền đút lót không duyệt bất cứ thứ gì. Đến bọn văn thư, nha lại cũng cậy mình ở cửa quan sách nhiễu đòi tiền dân. Các con buôn thi nhau nhập hàng độc hại giá rẻ về trà trộn bán cho dân chúng….
Cứ như tể tướng Bạo ngần ấy năm nắm việc quốc gia quyết định bán quặng nhôm cho nước Tần bất chấp các lão thần, trí sĩ ngăn cản. Nhân cái việc đó mà bọn quan lại địa phương cũng thấy có tài nguyên, khoáng sản gì là cho khai thác bừa bãi bán cho gian thương nước ngoài..
Nhưng cơ hội kiếm tiền nhiều nhất và lớn nhất đương nhiên thuộc về tể tướng, bởi ngài coi soát việc kinh tế trong triều. Một lời của ngài, một chữ ký của ngài kẻ khác có được hàng vạn lượng. Những kẻ hám lợi vây quanh tể tướng để nhận chút mưa móc. Lâu ngày chúng đông dần lên. Nghiễm nhiên thành băng đảng, kẻ đứng đầu băng đảng ấy tất là tể tướng“ (ĐVCD- Sách đã dẫn)
Qủa thực, đối với chế độ đương thời, như một lần tôi đã viết: Bán đất bán rừng đi đến bán nước bán cả linh hồn có một khoảng cách rất gần.
*Một số nhược điểm và hạn chế.
Tác phẩm nào cũng vậy, có hay thì chắc chắn phải có dở. Và Đại Vệ Chí Dị cũng không nằm ngoài lẽ thông thường đó.
Ta có thể thấy, nối dài mạch truyện (Đại Vệ Chí Dị) là những câu chuyện được truyền khẩu trong dân gian, hoặc những sự việc thực đã và đang xảy ra trong xã hội, mà đã được nghe, hay bắt gặp. Do vậy, khi đọc dòng đầu, ta đã biết trước được diễn biến và kết quả của câu chuyện. Cho nên, dường như không gây được sự bất ngờ, hứng thú cho người đọc. Truyện, tiểu thuyết cũng như thể thao vậy, kết quả biết trước khi vào thi đấu tranh tài, thì không có gì buồn chán bằng.
Vì một lý do nào đó, người viết có thể giả văn phong, mượn thời cuộc…nhưng không thể sao chép, copy tình tiết, câu chuyện từ tác phẩm khác thành của mình. Đọc đoạn văn dưới đây, bắt gặp hình ảnh Lưu Bị, Tào Tháo cho ta cảm giác rất nhàm, nhợt nhạt. Và có thể nói, nó hoàn toàn không có giá trị về nội dung, tư tưởng, hoặc một tiếng cười hay một chút gì đó đọng lại trong lòng người:
“Lúc ấy Vương sắp đi Cờ Hoa, Sáng Quyết và Quảng Phệ hội nhau uống rượu sau vườn phủ bộ Binh. Rượu ngà ngà Sáng Quyết hỏi.
– Theo đại nhân, thiên hạ ngày nay ai là anh hùng.?
Quảng Phệ đáp.
– Bọn Bạo, Cả Sáng đang đương thời là anh hùng, ngoài ra có Xuân Phước, Đường Hoang cũng đáng kể tên. Thêm nữa phải kể đến Bốn Sương người mạn Nam bộ cũng đáng mặt anh hùng.
Sáng Quyết cười nói.
– Bạo tham nhũng không được lòng dân, Cả Sáng lập lờ gió chiều nào che chiều ấy không dám quyết, Bốn Sang chỉ võ miệng mà không có thực lực. Bọn Xuân Phước, Đường Hoang là phường cơ hội mà lên, trong triều không ai phục. Tất cả lũ ấy không đáng gọi là anh hùng.
Quảng Phệ hỏi.
– Vậy còn ai nữa.?
Sáng Quyết ghé tai Quảng thì thầm.
– Anh hùng trong thiên hạ chỉ có mỗ và tướng quân mà thôi.
Quảng Phệ nghe xong, ngửa cổ lên trời cười khặc khặc, vỗ đùi đét cái hỏi.
– Đại thần kinh thành đã nói vậy, chắc có ý rồi.?“(Đại Vệ Chí Dị-sách đã dẫn)
Ngoài bắt chước, mô phỏng những tình tiết, hành động nhân vật từ những truyện cổ, hay phim truyền hình Trung Quốc ta còn bắt gặp khá nhiều những câu, những thán từ có gốc gác của các nhân vật trong Tam Quốc Chí: “ Trời đã sinh ra ta điên, sao nỡ còn sinh ra kẻ dại“.
Có lẽ, những đoạn văn trên chỉ gây được tiếng cười cho những độc giả hời hợt, lười suy nghĩ. Như nói về phim ảnh thời nay, gọi là mì ăn liền là vậy.
Và thiết nghĩ, nếu như tác giả lược bỏ những đoạn văn này, tôi tin cuốn sách sẽ thật và giá trị hơn.
Tuy sử dụng văn phong cổ, nhưng tác giả mang nhiều khẩu ngữ (văn nói) chưa chưng cất cho thật chín vào trang viết của mình, do vậy có những câu, từ lặp lại trong cùng một đoạn văn ngắn. Đó là điều đại kỵ trong văn chương. Ta đọc lại đoạn trích dưới đây để thấy rõ điều đó:
…Làm đại tướng cầm quân, bất chấp mệnh Vua đi sứ cam kết đủ điều. Đã thế lại đem binh hội ước với Tề ở biên giới, công khai nhận lễ vật của địch. Chuyện làm phản chỉ ngày một ngày hai. Nay hắn đang mật giao với Tề và đại thần Sáng Quyết, chắc làm phản ngày một ngày hai…“(Đại Vệ Chí Dị-sách đã dẫn)
Cũng từ nguyên nhân đó, ta có thể thấy Đại Vệ Chí Dị có khá nhiều câu văn tối nghĩa: “Có một thương gia thấy hiệu sách của Hàn ở vị thế đẹp để mở lầu xanh, bèn hỏi mua lại. Hàn nhất định không bán.“ (trang 316)
Với câu văn này, xin phép tác giả, tôi thử bỏ kết từ (để) và thay vào đó tính từ (có thể) có lẽ câu văn tròn trịa, rõ nghĩa hơn chăng: “Có một thương gia thấy hiệu sách của Hàn ở vị thế đẹp(có thể) mở lầu xanh, bèn hỏi mua lại. Hàn nhất định không bán.“
Có thể nói, tác giả sử dụng từ ngữ, nhất là các danh từ không nhất quán theo lối văn phong cổ, làm cho câu văn (đôi khi) bị sượng. Có lẽ, từ thời Tây Chu, Vệ Quốc kéo dài đến những thời phong kiến sau này, chỉ có chiếu sắc phong Học sĩ, Đại học sĩ, chứ làm quái gì đã có phong học hàm “làm giáo sư“. Không rõ, đây là do sơ xuất, hay chủ định của tác. Nhưng với tôi, trong một tác phẩm từ ngữ phải nhất quán, nhất là nó được viết bằng văn phong cổ. Một tác phẩm hay, dứt khoát không thể “đầu Ngô mình Sở“ được:
“Tứ Tấn nói.
- Bạo có hai hổ tướng, một là Tô Điền phó thương thư bộ Hình, hai là Chính Vượng phó thương thư bộ Binh. Đó là hai cánh của Bạo, chặt được hai cánh này Bạo chỉ còn là con gà, muốn thịt thế nào cũng được.
Vương bảo:
- Nếu vậy ta sắc phong cho Tô Điền làm giáo sư, đưa vào danh sách ứng cử đại thần nghị chính. Tô Điền sẽ lưỡng lự đóng quân, không dám theo điều động của Bạo. Chính Vượng thấy Điền được phong chức mà mình không được dòm tới, trong lòng sẽ sinh đố kỵ với Điền mà không còn lòng dạ dụng binh nữa. (Đại Vệ Chí Dị-Sách đã dẫn)
Có thể nói, viết văn là công việc nặng nhọc, viết chân dung, phê bình còn nặng cái đầu hơn nữa. Dù chỉ cảm nhận của cá nhân, nhưng để gọi được hồn vía, tư tưởng nhà văn và tác phẩm là điều không dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, có những tác giả, tác phẩm đọc xong, tự bật ra ý tưởng có thể đặt bút viết được ngay. Và ngược lại có nhà văn rất tài năng, tên tuổi, đọc và suy nghĩ cả năm trời, vẫn chưa (hay không) tìm ra mạch cũng như hướng đi cho bài viết. Cho nên, khi nhận được Đại Vệ Chí Dị, với lời đề nghị đọc và viết trong vài, ba tuần, quả thực thời gian quá eo hẹp đối với một người phải làm việc ngày 11 giờ, kể cả thứ bảy, chủ nhật như tôi. Hơn nữa, muốn giới thiệu về một cuốn sách, người viết không chỉ đọc một cuốn sách đó, mà buộc phải đọc nhiều tác phẩm khác của tác giả ấy…
Tuy nhiên, nhà xuất bản Vipen đã nhờ, tôi sẽ phải viết. Mà đã viết thì viết đến tận cùng sự suy nghĩ của mình. Và bài viết này, được ra đời ngay trên Theke quán rượu, nơi tôi làm việc, khi vắng khách. Đây cũng chỉ là suy nghĩ chủ quan cá nhân của tôi về Đại Vệ Chí Dị, rất có thể không đúng. Nhưng tôi nghĩ, dù sai hay đúng, nó cũng giúp được phần nào cho bạn đọc muốn tìm hiểu, hay tiếp cận, và tự đánh giá tác phẩm, tư tưởng tác giả cũng như chính sử Việt Nam đương đại, một cách chân thật, chính xác nhất.
Leipzig ngày 9-5-2016
© Đỗ Trường
© Đàn Chim Việt